Chuyển đến nội dung chính

Chiến lược đầu tư thụ động lên ngôi – nhà đầu tư cần làm gì để tận dụng xu hướng này?

Năm 2025, trên thị trường chứng khoán Việt Nam, hiệu suất đầu tư nghiêng hẳn về phía các quỹ thụ động một cách áp đảo. Không một quỹ chủ động nào có thành tích vượt trội hơn VN-Index, trong khi các quỹ ETF tracking theo chỉ số VN30 và các ETF ngoại đem lại lợi nhuận vượt trội hơn thị trường.

Câu hỏi đặt ra là, liệu đầu tư thụ động có duy trì được hiệu suất này hay không, nhà đầu tư cá nhân nên đi theo chiến lược thụ động hay chủ động?


Cuộc đối đầu giữa các quỹ đầu tư chủ động và các quỹ thụ động trong hơn 50 năm qua.

Sự đối lập giữa thụ động và chủ động không chỉ tồn tại trong đầu tư tài chính, mà còn hiện hữu trong chính cuộc sống hàng ngày. Con người thường đề cao sự chủ động: chúng ta được dạy phải "chủ động trong công việc", "chủ động nắm bắt cơ hội", "chủ động thay đổi bản thân" để đạt thành công.

Chủ động mang ý nghĩa kiểm soát, nỗ lực cá nhân, sáng tạo và trách nhiệm – những giá trị văn hóa được tôn vinh ở hầu hết các xã hội.

Tuy nhiên, trong đầu tư chứng khoán, nghịch lý xuất hiện: chính sự "chủ động" quá mức – với việc cố gắng dự đoán, chọn lọc và timing – thường dẫn đến kết quả kém hơn so với cách tiếp cận thụ động, đơn giản là "đi cùng thị trường".

Chiến lược thụ động trong đầu tư không phải là thụ động trong cuộc sống, mà là sự khôn ngoan chấp nhận giới hạn của bản thân trước sự phức tạp và bất định của thị trường. Nó đòi hỏi kỷ luật cao nhất: kiên nhẫn, không can thiệp, để thời gian và lãi kép làm việc thay vì cố gắng "thông minh" hơn thị trường.

Trong hơn 50 năm qua, cuộc tranh luận giữa đầu tư thụ động (passive investing) và đầu tư chủ động (active investing) đã trở thành một trong những chủ đề gay gắt nhất trong giới tài chính. 

John Bogle

Cuộc tranh luận bắt đầu từ năm 1976, đánh dấu bằng sự ra đời của quỹ chỉ số đầu tiên cho nhà đầu tư cá nhân, được thành lập bởi John Bogle và Tập đoàn Vanguard. Kể từ đó, chiến lược đầu tư thụ động (chỉ mô phỏng chỉ số như S&P 500) đã trực tiếp thách thức vị thế độc tôn của đầu tư chủ động (chọn cổ phiếu để cố gắng đánh bại thị trường)

Đầu tư thụ động – tiêu biểu qua các quỹ ETF – chỉ đơn giản là xây dựng một rổ cổ phiếu mô phỏng một chỉ số thị trường với chi phí cực thấp mà không cần dự đoán hay chọn lọc cổ phiếu. Như tại Việt Nam, các ETF nội mô phỏng theo theo chỉ số VN-Index và các chỉ số phụ như VN30, VN100, VN-Midcap VN-Diamond, hay VN-Finlead. Trong khi đó, các quỹ ETF ngoại như xây dựng bộ chỉ số riêng để mô phỏng như FTSE Vietnam Index hay MarketVector Vietnam Local Index.

Ngược lại, đầu tư chủ động dựa vào khả năng của các nhà quản lý quỹ chuyên nghiệp nhằm đạt mức sinh lợi vượt trội hơn thị trường thông qua việc chọn cổ phiếu tốt, timing mua bán và điều chỉnh danh mục linh hoạt.


Sự gia tăng bùng nổ của chiến lược đầu tư thụ động tại Mỹ

Từ những năm 1980-1990, đầu tư thụ động bắt đầu lan rộng nhờ sự công nhận từ các học giả và các nhà đầu tư lớn như Warren Buffett và Peter Lynch. Đến đầu những năm 2000, Vanguard giới thiệu các phiên bản ETF (exchange-traded funds) của quỹ chỉ số, cho phép giao dịch linh hoạt như cổ phiếu nhưng vẫn giữ bản chất thụ động.


Sự bùng nổ thực sự diễn ra sau khủng hoảng tài chính 2008: nhà đầu tư ngày càng nhận ra rủi ro của chủ động và ưu tiên chi phí thấp, đa dạng hóa. Theo dữ liệu từ Morningstar và các nguồn khác, đến cuối năm 2023, tài sản thụ động (index funds + ETFs) đã vượt qua tài sản chủ động lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ. Đến cuối năm 2025, tài sản thụ động đạt hơn 19,500 tỷ USD, trong khi tài sản chủ động chỉ khoảng 15,800 tỷ USD. BlackRock và Vanguard dẫn đầu, chiếm phần lớn dòng vốn mới vào thụ động.

Thống kê không thể chối cãi: Quỹ chủ động Mỹ khó đánh bại S&P 500

John Bogle đã minh chứng sự vượt trội của các quỹ chỉ số trong cuốn sách “The Little Book of Common Sense Investing” (tạm dịch: Sổ tay Đầu tư đơn giản). Ông so sánh thành tích của 355 quỹ đầu tư chủ động hoạt động từ năm 1970 đến 2006 so với tỷ suất sinh lợi của chỉ số S&P 500.

  • Tính tới năm 2006 (thời điểm ông viết cuốn sách), đã có 223 quỹ, chiếm gần 2/3 tổng số đã ngừng hoạt động.
  • Trong số 132 quỹ còn lại, có 60 quỹ có tỷ suất sinh lợi thấp hơn S&P 500 ít nhất 1%/năm.
  • Tổng cộng 283 quỹ, chiếm gần 80%, không thể chứng tỏ được sự ưu việt của mình so với việc đầu tư vào danh mục thị trường.
  • Còn lại 72 quỹ, trong đó có 48 quỹ là có suất sinh lợi tương đương với S&P 500, chênh lệch không quá 1%/năm. 24 quỹ còn lại, có 15 quỹ là có suất sinh lợi lớn hơn S&P 500 không quá 2%/năm; và số 9 quỹ có suất sinh lợi vượt trội so với thị trường từ 2%/năm trở lên, có 6 quỹ đã qua thời kỳ tăng trưởng đỉnh cao đang trong giai đoạn thoái trào.

Như vậy, từ 355 quỹ đầu tư hoạt động vào năm 1970, chỉ còn lại 3 quỹ, tức là chỉ 0,8% con số ban đầu là có suất sinh lợi cao hơn hẳn chỉ số S&P 500.


Các báo cáo SPIVA (S&P Indices Versus Active) của S&P Dow Jones Indices, so sánh thành tích của các quỹ chủ động với chỉ số thị trường, liên tục chứng minh sự vượt trội của chiến lược đầu tư thụ động. Trong dài hạn, phần lớn quỹ chủ động đều thua kém thị trường:

Theo SPIVA Year-End 2025: có 79% quỹ chủ động tại Mỹ thua kém chỉ số S&P 500 trong nửa đầu năm 2025. Con số này cao hơn mức 65% quỹ thua kém được ghi nhận trong cả năm 2024.

Khi kéo dài thời gian: tỷ lệ thua kém tăng mạnh

  • Trong khoảng 1 năm: Tỷ lệ thua kém thường dao động quanh mức 65%.
  • Trong khoảng 5 năm: Tỷ lệ này tăng lên khoảng 76% - 87% tùy từng giai đoạn báo cáo.
  • Trong khoảng 15 năm: Đây là mốc thời gian chứng minh rõ nhất sự khó khăn của quản lý chủ động. Dữ liệu ghi nhận khoảng 88,29% đến 90% các quỹ chủ động không đánh bại được S&P 500 sau 15 năm

Qua nhiều thập kỷ, khoảng 80-90% quỹ chủ động tại Mỹ không vượt trội S&P 500 sau 10-15 năm, chủ yếu do chi phí quản lý cao và các thiên kiến hành vi. Điều này khẳng định luận điểm của Bogle: thị trường hiệu quả đến mức khó đánh bại, và chi phí là yếu tố quyết định.


Thị trường chứng khoán Việt Nam: Sự lên ngôi của các ETF

Xu hướng toàn cầu này đã đến Việt Nam một cách rõ rệt trong năm 2025 – năm chứng khoán tăng trưởng mạnh mẽ với VN-Index tăng +41% và VN30 +51%. Tuy nhiên, hiệu suất đầu tư thực tế của các quỹ cũng lặp lại câu chuyện Mỹ:


34 quỹ chủ động chỉ đạt mức tăng trưởng bình quân 16,8%, và tất cả đều thua kém VN-Index. Ngay cả các quỹ hàng đầu như BVFED (36,2%), DCDS (31,5%)  cũng không vượt qua được chỉ số thị trường.

Ngược lại, 14 quỹ ETF thụ động đạt mức tăng trưởng bình quân 46%, trong đó cao nhất là  các ETF ngoại như Premia MSCI Vietnam ETF (+73%), Xtrackers FTSE Vietnam Swap (+69%). Các quỹ ETF nội địa tham chiếu theo VN30 đạt 51-53%.

Nguyên nhân của sự chênh lệch này là thị trường 2025 bị dẫn dắt bởi vài "siêu cổ phiếu" như VIC ( tăng +736% trong năm) và VHM (+210%), chiếm tỷ trọng lớn trong VN30. Các ETF giữ nguyên tỷ trọng, hưởng lợi đầy đủ từ con sóng tăng; trong khi các quỹ chủ động giảm tỷ trọng và thậm chí không nắm giữ các cổ phiếu này do lo ngại định giá cao, triển vọng không rõ ràng bỏ lỡ đà tăng.


Nhà đầu tư cá nhân nên làm gì?

Các quỹ ETF và các quỹ chỉ số không áp dụng định giá, thay vì đó họ chỉ mô phòng theo 1 chỉ số chứng khoán, và định kỳ cơ cấu danh mục theo chỉ số đó. Bản chất của hành động này dựa trên tài chính hành vi, dựa vào sự phản ứng thái quá của thị trường. Trong các đợt review định kỳ, các bộ chỉ số thường sẽ giảm tỷ trọng những cổ phiếu đã tăng mạnh, do tỷ trọng của các cổ phiếu này đã vượt qua room cho phép theo quy ước của bộ chỉ số; và tăng tỷ trọng những cổ phiếu đã giảm mạnh (còn nhiều room).

Từ những diễn biến của thị trường Việt Nam năm 2025 và những diễn biến trong quá khứ, chúng ta có thể thấy răng chiến lược đầu tư thụ động hiện vẫn đang là chiến lược giúp tài sản tăng trưởng ổn định và bền vững.

Chúng ta không cần phải thông minh hơn thị trường. Nhà đầu tư cá nhân có thể mua các chứng chỉ quỹ ETF đang niêm yết trên sàn theo 1 trong 2 chiến lược, DCA (mua trung bình giá) hoặc đầu tư theo chu kỳ kinh tế (theo chính sách tiền tệ hoặc dựa trên mức định giá P/E chung của toàn thị trường)



Ở mức cao cấp hơn, nhà đầu tư có thể dựa vào tài chính hành vi để thiết lập một quy tắc riêng cho danh mục đầu tư của mình. Điều này giống như các quỹ ETF ngoại, họ xây dựng bộ chỉ số theo tiêu chí riêng như FTSE hay MSCI và phân bổ danh mục theo chỉ số đó.

Chẳng hạn, nhà đầu tư theo chiến lược dài hạn có thể dựa vào hiện tượng phản ứng thái quá (trong tài chính hành vi gọi là overreaction), tìm kiến những cổ phiếu giảm sâu từ 3-5 năm qua, trong khi hoạt động kinh doanh vẫn bình thường, để phân bổ danh mục. Các nhà đầu tư dài hạn có thể áp dụng chiến lược này để xây dựng danh mục đầu tư cho chu kỳ 3-5 năm.

Đối với chiến lược lướt sóng, trading ngắn hạn, nhà đầu tư có thể dựa vào chiến lược phản ứng dưới mức (underreaction).

  • Vào năm 1993, 2 giáo sư tài chính là Narasimhan Jegadeesh và Sheridan Titman công bố nghiên cứu có tiêu đề Returns to Buying Winners and Selling Losers (tạm dịch là trở lại với chiến lược mua nhưng cổ phiếu chiến thắng và bán những cổ phiếu thua cuộc). Nghiên cứu này cho thấy rằng, trong trung hạn, những cổ phiếu tăng giá mạnh trong quá khứ (từ 3 tháng đến 12 tháng trước đó- nhóm Winners) có xu hướng tiếp tục tăng, và những cổ phiếu giảm giá mạnh (Losers) có xu hướng tiếp tục giảm trong trung hạn.
  • Đây là kết quả của underreaction (nhà đầu tư phản ứng dưới mức với tin tốt) và herding (hành vi bầy đàn).
  • Kết quả này cũng sát với chiến lược CANSLIM của William O’neil và VCP của Mark Mininervini, những nhà đầu tư theo đà tăng trưởng.
  • Với chiến lược này, nhà đầu tư hãy tìm những cổ phiếu có đà tăng trong 3-12 tháng trước đó (loại bỏ những cổ phiếu đã tăng hơn 12 tháng do sẽ rơi vào trường hợp overreaction); sau đó chờ điểm mua bán phù hợp theo hệ thống giao dịch của bạn.

Lời kết - thông điệp của thị trường

Năm 2025 không chỉ là một năm tăng trưởng mạnh mẽ của chứng khoán Việt Nam, mà còn là minh chứng sống động cho sức mạnh của chiến lược đầu tư thụ động. Khi thị trường được dẫn dắt bởi một vài “siêu cổ phiếu” và biến động mạnh, chính sự “ngu ngốc máy móc” của ETF lại trở thành lợi thế lớn nhất.

Thị trường không vận hành theo lý trí vì chúng ta, những chủ thể tham gia vào thị trường, là con người – với đầy cảm xúc và thiên kiến. Nhưng chính vì vậy, cách đầu tư hiệu quả nhất đối với hầu hết mọi người không phải là cố gắng trở nên thông minh hơn thị trường, mà là đơn giản đi cùng thị trường – thông qua những công cụ thụ động như ETF và ứng dụng về hành vi. Thay vì đi tìm cổ phiếu Undervalue (định giá thấp), thì hãy đi tìm cổ phiếu có hiện tượng Overreaction hoặc đang có quán tính tăng giá.

Đối với nhà đầu tư cá nhân, thông điệp của thị trường rất rõ ràng: trong một thị trường đầy biến động như hiện nay, đầu tư thụ động không chỉ là là lựa chọn an toàn – nó là lựa chọn thông minh.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

KDH - Cập nhật thông tin cơ bản 10/02/2025

CTCP Đầu tư và Kinh doanh nhà Khang Điền   Kết quả kinh doanh 5 quý gần nhất Tình hình tài chính của KDH và một số doanh nghiệp BĐS Giá trị hợp lý: 39.994 đ/cp (theo VCBS); 40.000 & 41.500 (mục tiêu theo PTKT – mục tiêu đối xứng khi vượt đượng đỉnh và cạnh trên kênh giá tăng dài hạn)   Kết quả kinh doanh phục hồi, lợi nhuận tăng trưởng đột biến trong Q4/2024 Doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế Q4/2024 đạt lần lượt 2.047 tỷ đồng (+336% yoy) và 392 tỷ đồng (+522% yoy). Cả năm 2024, doanh thu thuần và LNST đạt lần lượt 3.278 tỷ đồng (+57% yoy) và 803 tỷ đồng (+10% yoy), hoàn thành lần lượt 84% và 102% kế hoạch năm 2024. Mức tăng trưởng đột biến trong kết quả kinh doanh quý 4 đến từ việc bàn giao khoảng 800 căn hộ tại dự án The Privia. Biên lợi nhuận gộp đạt 53%, thu hẹp đáng kể so với mức 76% so với cùng kỳ do trong năm 2023, KDH chủ yếu bàn giao sản phẩm thấp tầng tại dự án Classia (vốn có biên lợi nhuận cao hơn phân khúc chung cư) Tổ hợp dự án The Foresta (TP.Thủ Đức, TP....

PHR - Thoát khỏi xu hướng giảm

CTCP Cao Su Phước Hòa Mã cổ phiếu Nhóm ngành Giá hiện tại Giá mục tiêu Khuyến nghị Stoploss PHR Cao su, KCN 44.050 58.700 MUA 41.300 THÔNG TIN CƠ BẢN Vốn hóa (tỷ đồng) 5.969 % Sở hữu nước ngoài 8,77% EPS trailing (đồng/cp) 4.257 P/E trailing 10,35x ROA 2019 8,2% ROE 2019 17,2% Giá cao nhất 52 tuần (đồng) 70.000 Giá thấp nhất 52 tuần (đồng) 33.000 KẾT QUẢ KINH DOANH QUÝ 1.2020  Đơn vị: Tỷ đồng Q1/2020 Q1/2019 %yoy Doanh thu thuần 220,9 291,6 -24% Giá vốn hàng bán 163,0 219,7 -26% Lợi nhuận gộp ...

PC1 - Cập nhật thông tin cơ bản 13/02/2025

  CTCP Tập đoàn PC1 Kết quả kinh doanh 5 quý gần nhất Tình hình tài chính của PC1 và một số doanh nghiệp xây dựng Giá trị hợp lý: 29.200 đ/cp (theo VCBS); 25.500 & 27.800 (mục tiêu theo PTKT – các vùng đỉnh cũ) Kết quả kinh doanh duy trì tốc độ tăng trưởng cao Cả năm 2024, PC1 ghi nhận doanh thu 10.078 tỷ đồng (+31% YoY) và lợi nhuận sau thuế: 704 tỷ đồng (+287% YoY). Động lực tăng trưởng đến từ: - Xây lắp: Tăng trưởng mạnh với backlog 6.892 tỷ đồng (+63% YoY) từ các dự án như điện gió Camarines Sur và EPC cáp ngầm Côn Đảo - Năng lượng: Sản lượng thủy điện cao nhờ thời tiết thuận lợi - Khai khoáng: Tăng trưởng vượt trội so với nền thấp với nhà máy Nickel hoạt động cả năm Triển vọng 2025 - Mảng xây lắp: kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng trong năm 2025 với backlog đạt trên 6.892 tỷ đồng (+63% YoY) và biên LNG có thể cải thiện từ nền thấp. Các dự án nổi bật có thể kể đến như: Điện gió Camarines Sur (58,5 MW, giá trị 1.200 tỷ đồng), EPC cáp ngầm Côn Đảo (giá trị 1.800 tỷ đồng) - Mảng nă...